CÔNG TY LUẬT ANT

Công ty Luật hàng đầu Việt Nam

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp lý cho tổ chức công ty và cá nhân

CÔNG TY LUẬT ANT

Tư vấn pháp luật uy tín

CÔNG TY LUẬT ANT

Đội ngũ luật sư chuyên nghiệp

CÔNG TY LUẬT ANT

Có nhiều kinh nghiệm và chuyên môn cao

Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2019

Dịch Vụ Đăng Kí Nhãn Hiệu Tại Việt Nam

Làm thế nào để đăng kí nhãn hiệu tại Việt Nam?

Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau vì vậy nó là tài sản vô giá đối với mỗi công ty. Các công ty thường phải mất một thời gian dài để xây dựng được uy tín và sự tin cậy của người tiêu dùng đối với nhãn hiệu sản phẩm, dịch vụ của mình. Tuy nhiên, trong thực tế, vì nhãn hiệu chỉ được bảo hộ khi đăng ký và bảo hộ độc lập tại mỗi quốc gia nên các đối thủ cạnh tranh có thể dễ dàng sử dụng nhãn hiệu của bạn mà không hỏi ý kiến nếu nhãn hiệu đó chưa được đăng ký bảo hộ trước đó tại Cục sở hữu trí tuệ.

ANT Lawyers là tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp đã được Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam công nhận. Với nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ cùng độ ngũ chuyên gia IP giàu kinh nghiêm, ANT lawyers sẽ hỗ trợ quý khách hàng bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp với nhãn hiệu như sau:
1.Dịch vụ nhãn hiệu
Dịch vụ của chúng tôi bao gồm:
  • Tra cứu sơ bộ, cung cấp ý kiến chuyên môn và tư vấn liên quan đến khả năng đăng ký nhãn hiệu hàng hoá và tên gọi xuất xứ;
  • Chuẩn bị, soạn thảo, nộp đơn và theo dõi các đơn đăng ký nhãn hiệu và tên gọi xuất xứ;
  • Gia hạn;
  • Cấp lại
  • Sửa đổi bổ sung;
  • Cấp phép và chuyển nhượng;
  •  Phản đối;
  •  Khiếu nại, hủy bỏ, chấm dứt hiệu lực.
2.Các thức đăng ký Nhãn hiệu tại Việt Nam
Yêu cầu và thủ tục đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam
Theo hệ thống nhãn hiệu của Việt Nam, nguyên tắc nộp đơn đầu tiên được áo dụng để bảo hộ nhãn hiệu tại Việt Nam. Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu sẽ được cấp cho cá nhân, pháp nhân nộp đơn đăng ký nhãn hiệu đầu tiên. Mỗi đơn đăng chỉ được sử dụng cho một nhãn hiệu. Tuy nhiên, mỗi đơn đăng ký nhãn hiệu  tại Việt Nam được đăng ký cho nhiều nhóm sản phẩm dịch vụ, vì vậy có thể đăng ký lên tới 45 nhóm sản phẩm và dịch vụ trong một đơn đăng ký.
Đặc điểm của các nhóm hàng hóa/dịch vụ
Bảng phân loại Nice phiên bản 10 được sử dụng cho việc phân loại trong đơn đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam và được dùng để tính phí Nhà nước và phạm vi bảo hộ.  Các nguyên tắc này được quy định như sau:
Bất cứ nhóm sản phẩm/ dịch vụ nào được liệt kê theo vần ABC và theo mã cụ thể được miêu tả trong Bảng phân loại Nice đều được thừa nhận để phân loại sản phẩm dịch vụ,
Ngược lại, nếu không thể phân loại sản phẩm/ dịch vụ dựa trên tiêu chí trên, Những lưu ý chung trong thỏa ước Nice sẽ được áp dụng để phân loại.
Tài liệu cần thiết
  • 01 Giấy ủy quyền bản gốc giấy ủy quyền do người có thẩm quyền ký.
Lưu ý: Bản photo giấy ủy quyền được chất nhận khi nộp đơn, tuy nhiên phải nộp bản gốc giấy ủy quyền trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nộp đơn mà không phải nộp kèm theo bất cứ khoản phí bổ sung nào.
  • Luật Sở hữu trí tuệ Việt nam quy định tất cả các sản phẩm/ dịch vụ được chỉ định trong đơn phải được thể hiện cụ thể. Các sản phẩm/ dịch vụ chỉ miêu tả tổng quán hoặc chỉ được phân loại theo đề mục sẽ không được chấp nhận. Do đó, vui lòng liệt kê các sản phẩm/ dịch vụ quan tâm đã được áp dụng theo từng nhóm cụ thể.
  • Mẫu nhãn hiệu dưới dạng file .JPEG (với độ phân giải tối thiểu 300 dpi) và chiều dài, chiều rộng không quá 8 cm.
Thủ tục đăng ký
  • Nhận đơn: Thông thường, đơn đăng ký nhãn hiệu sẽ được Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam đóng dấu xác nhận là đã nộp và chuyển cho lại bạn trong vòng 24 giờ ngay tại nơi nộp đơn.
  • Thẩm định hình thức: Sau khi nộp đơn đăng ký nhãn hiệu, đầu tiên đơn sẽ được thẩm định về hình thức. Thời hạn thẩm định hình thức là một (01) tháng kể từ này nhận đủ hồ sơ hợp lệ theo đúng thủ tục.
  • Công bố đơn: Tiếp theo đó, đơn đăng ký nhãn hiệu, sau khi đã được chấp nhận về mặt hình thức, sẽ được đăng công khai trên công báo của Cục Sở hữu trí tuệ trong thời gian 02 tháng tính từ ngày có thông báo chấp nhận đơn. Đây là giai đoạn để bên thứ ba có thể phản đối việc đăng ký nhãn hiệu.
  • Thẩm định nội dung: Tiếp theo, dựa trên những quy định của pháp luật Việt Nam về nhãn hiệu, thẩm định viên sẽ xem xét khả năng được đăng ký của nhãn hiệu và sẽ hoàn thành việc thẩm định này trong thời gian 09 tháng tính từ ngày đơn được công khai trên công báo của Cục Sở hữu trí tuệ.
  • Cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu: Cuối cùng,  nếu không có bất kỳ phản đối nào từ thẩm định viên hoặc bên thứ ba về việc nhãn hiệu trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn, quyết định chính thức về việc cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu sẽ được đưa ra. Thông thường, Giấy chứng nhận sẽ được cấp sau khoảng 03 tháng kể từ ngày có quyết định.
Nói chung, trên thực tế, nếu không bị phản đối, sẽ mất khoảng từ  15-18 tháng kể từ ngày nộp đơn cho đến khi chính thức nhận được Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu.
Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu tại Việt Nam sẽ có hiệu lực kể từ ngày được cấp và có giá trị trong vòng 10 năm kể từ ngày nộp đơn. Chủ sở hữu có thể tiến hành việc gia hạn đăng ký nhãn hiệu nhiều lần, mỗi lần 10 năm.

Thứ Năm, 18 tháng 7, 2019

Thời Hạn Nộp Lệ Phí Môn Bài Và Mức Xử Phạt Khi Chậm Nộp

Việc kê khai nộp lệ phí môn bài được quy định như thế nào? Thời hạn nộp lệ phí môn bài là bao lâu và mức xử phạt khi chậm nộp?

Thuế môn bài là một sắc thuế trực thu và thường là định ngạch đánh vào giấy phép kinh doanh (môn bài) của các doanh nghiệp và hộ kinh doanh. Thuế môn bài được thu hàng năm. Mức thu phân theo bậc, dựa vào số vốn đăng ký hoặc doanh thu của năm kinh doanh kế trước hoặc giá trị gia tăng của năm kinh doanh kế trước tùy từng nước và từng địa phương. 
1. Kê khai lệ phí môn bài
Khai lệ phí môn bài một lần khi người nộp lệ phí mới ra hoạt động kinh doanh, chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh;
Trường hợp người nộp lệ phí mới thành lập cơ sở kinh doanh nhưng chưa hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải khai lệ phí môn bài trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc ngày cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và đăng ký thuế.
 Người nộp lệ phí môn bài nộp Hồ sơ khai lệ phí môn bài cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp:
a) Trường hợp người nộp lệ phí có đơn vị phụ thuộc (chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh) kinh doanh ở cùng địa phương cấp tỉnh thì người nộp lệ phí thực hiện nộp Hồ sơ khai lệ phí môn bài của các đơn vị phụ thuộc đó cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp của người nộp lệ phí;
b) Trường hợp người nộp lệ phí có đơn vị phụ thuộc (chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh) kinh doanh ở khác địa phương cấp tỉnh nơi người nộp lệ phí có trụ sở chính thì đơn vị phụ thuộc thực hiện nộp Hồ sơ khai lệ phí môn bài của đơn vị phụ thuộc cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp đơn vị phụ thuộc.
2. Thời hạn nộp lệ phí môn bài
a) Đối với tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
Thời hạn nộp lệ phí môn bài chậm nhất là ngày 30 tháng 1 hàng năm. Trường hợp tổ chức mới ra hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc mới thành lập cơ sở sản xuất kinh doanh thì thời hạn nộp lệ phí môn bài chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai lệ phí môn bài theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 139/2016/NĐ-CP ngày 04/10/2016 của Chính phủ quy định về lệ phí môn bài.
b) Đối với cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình thực hiện nộp lệ phí môn bài chậm nhất là ngày 30 tháng 01 hàng năm.
Trường hợp người nộp lệ phí môn bài là cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình mới ra sản xuất, kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán thì thời hạn nộp lệ phí môn bài chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng tiếp theo tháng có phát sinh nghĩa vụ khai thuế theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân.
3. Mức phạt cho hành vi chậm nộp
Theo quy định tại Thông tư 130/2016/TT-BTC thì mức phạt đối với hành vi chậm nộp thuế được xác định như sau:
  • Đối với khoản tiền thuế nợ phát sinh từ ngày 01/7/2016 thì tiền chậm nộp được tính theo mức 0,03%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp.
  • Đối với khoản tiền thuế nợ phát sinh trước ngày 01/7/2016 nhưng sau ngày 01/7/2016 vẫn chưa nộp thì tính như sau: trước ngày 01/01/2015 tính phạt chậm nộp, tiền chậm nộp theo quy định tại Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13, từ ngày 01/01/2015 tính tiền chậm nộp theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế số 71/2014/QH13, từ ngày 01/7/2016 tính tiền chậm nộp theo mức 0,03%/ngày.
Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với Công ty luật để được được tư vấn hoặc thực hiện dịch vụ đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh. 




Nguồn : luatsu1900

Thứ Tư, 17 tháng 7, 2019

Thủ Tục Xin Cấp Bằng Sáng Chế Tại Việt Nam

Những dịch vụ liên quan đến sáng chế

Những dịch vụ liên quan đến lĩnh vực sáng chế bao gồm:
  • Tìm kiếm và đưa ra các ý kiến tư vấn liên quan đến khả năng bảo hộ của Sáng chế/ Giải pháp hữu ích
  • Chuẩn bị, soạn thảo bản mô tả và các tài liệu cần thiết; nộp đơn và theo dõi suốt quá trình nộp đơn đăng ký Sáng chế/ Giải pháp hữu ích
  • Duy trì hiệu lực văn bằng bảo hộ
  • Sửa đổi đơn/ văn bằng bảo hộ
  • Nhượng quyền
  • Chuyển giao quyền
  • Phản đối chống lại việc kiện tụng
  • Kháng cáo, hủy bỏ, hủy hiệu lực văn bằng bảo hộ
Thủ tục nộp đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam
Nhà sáng chế, tổ chức hoặc cá nhân có ầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc có quyền nộp đơn đăng ký sáng chế tại Việt Nam
Một sáng chế sẽ được bảo hộ theo pháp luật Việt Nam nếu nó thỏa mãn được các điều kiện sau đây:
  • Có tính mới
  • Có trình độ sáng tạo
  • Có khả năng áp dụng công nghiệp
Hồ sơ yêu cầu và tài liệu để đăng ký:
Để nộp hồ sơ đăng ký bảo hộ sáng chế tại Việt Nam, những tài liệu cần thiết bao gồm:
  • Họ tên đầy đủ và địa chỉ của người nộp đơn
  • Họ tên đầy đủ, địa chỉ và quốc tịch của tác giả sáng chế
  • Bản gốc Giấy ủy quyền của người nộp đơn (POA)
Giấy ủy quyền phải được ký bởi người nộp đơn hoặc người đại diện hợp pháp của người nộp đơn, không yêu cầu công chứng hay hợp pháp hóa
  • Bản sao tờ khai mô tả, bản vẽ và bản tóm tắt của đơn đăng ký sáng chế bằng tiếng Anh (được lập dưới dạng văn bản) và/hoặc tờ khai sửa đổi phần mô tả, các yêu cầu khác (nếu có)
  • Các tài liệu đã được chứng thực về công nhận quyền ưu tiên (nếu có)
    • Trình tự thủ tục thẩm định đơn
Đơn đăng ký nhãn hiệu sẽ được thẩm định bởi Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (NOIP) với trình tự và thủ tục như sau:
  • Thẩm định về hình thức: Theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, đơn đăng ký sáng chế sẽ được thẩm định về mặt hình thức trong thời gian 01 tháng tính từ ngày nộp đơn hoặc từ ngày đơn quốc tế có quyết định chuyển thành đơn quốc gia. Nếu như đơn đăng ký sáng chế đáp ứng được những điều kiện về hình thực, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ đưa ra quyết định chấp nhận hình thức đơn và tiến hành các thủ tục tiếp theo.
  • Công bố đơn đăng ký sáng chế: Trong vòng 2 tháng kể từ ngày công bố 19 tháng kể từ ngày ưu tiên
  • Thẩm định về nội dung: Quá trình thẩm định nội dung không được tự động tiến hành kể từ ngày nộp đơn. Người nộp đơn phải có yêu cầu với Cục Sở hữu trí tuệ về việc thẩm định nội dung đơn trong vòng 42 tháng kể từ ngày ưu tiên, hoặc 36 tháng đối với đơn đăng ký giải pháp hữu ích. Nếu trong thời gian trên mà người nộp đơn không có yêu cầu thì sẽ bị coi là đã rút đơn.
  • Thông báo về kết quả thẩm định nội dung
  • Quyết định từ chối cấp văn bằng bảo hộ hoặc Yêu cầu trả phí cấp văn bằng bảo hộ
  • Cấp Bằng độc quyền Sáng chế
    • Hiệu lực của sáng chế và duy trì bảo hộ sáng chế
Bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực kể từ ngày cấp và kéo dài đến hết 20 năm kể từ ngày nộp đơn. Chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế hoặc bằng độc quyền giarp pháp hữu ích phải tiến hành việc chi trả lệ phí đế duy trì hiệu lực của văn bằng bảo hộ
Nếu quý khách có nhu cầu về việc xin cấp bằng sáng chế tại Việt Nam, hãy liên hệCông ty luật hoặc số Hotline: (04) 66737711 Để được tư vấn.

Thứ Ba, 16 tháng 7, 2019

Quy Định Pháp Luật Lao Động Về Làm Thêm Giờ

Theo quy định của Bộ luật Lao động, thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và 48 giờ trong 01 tuần. Người sử dụng lao động có quyền quy định làm việc theo giờ hoặc ngày hoặc tuần; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày, nhưng không quá 48 giờ trong 01 tuần. Đây là thời giờ làm việc cố định áp dụng đối với bất kỳ doanh nghiệp nào sử dụng lao động.

Tuy nhiên, trong quá trình lao động và sản xuất, việc làm thêm giờ là điều cần thiết để đảm bảo việc vận hành và công việc kinh doanh hoạt động đúng tiến độ, Bộ luật Lao động cho phép việc làm thêm giờ phải đáp ứng các điều kiện như sau:
– Được sự đồng ý của người lao động;
– Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trường hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 30 giờ trong 01 tháng và tổng số không quá 200 giờ trong 01 năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm giờ không quá 300 giờ trong 01 năm;
– Các trường hợp được tổ chức làm thêm giờ trên 200 giờ nhưng không vượt quá 300 giờ trong một năm gồm:
+ Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm là hàng dệt, may, da, giày, chế biến nông, lâm, thủy sản;
+ Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước;
+ Các trường hợp khác phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn.
– Sau mỗi đợt làm thêm giờ nhiều ngày liên tục trong tháng, người sử dụng lao động phải bố trí để người lao động được nghỉ bù cho số thời gian đã không được nghỉ.
Thông thường, việc làm thêm giờ được giới hạn ở mức 200 giờ trong 01 năm, các doanh nghiệp không được tổ chức làm thêm giờ vượt quá con số này, trừ trường hợp đặc biệt không quá 300 giờ. Khi tổ chức làm thêm giờ thì người sử dụng lao động phải thông bảo bằng văn bản cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội địa phương. Nếu vi phạm các quy định này, doanh nghiệp sẽ phải chịu mức xử phạt hành chính như sau:
– Phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động huy động người lao động làm thêm giờ vượt quá 50% số giờ làm việc bình thường và trường hợp không quá 300 giờ trong 01 năm theo quy định tại Khoản 4 Điều 14 Nghị định 95/2013/NĐ-CP.
– Doanh nghiệp sẽ bị phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng nếu không thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý nhà nước về lao động tại địa phương về việc tổ chức làm thêm giờ từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm theo quy định tại Khoản 11 Điều 1 Nghị định 88/2015/NĐ-CP.
– Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động nếu sử dụng lao động huy động người lao động làm thêm giờ mà không được sự đồng ý của người lao động theo quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 14 Nghị định 95/2013/NĐ-CP.
Cần chú ý rằng, trên đây là mức phạt tiền đối với cá nhân, còn mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền trên.

Hà Nội Chỉ Nhận Hồ Sơ Thành Lập Doanh Nghiệp Qua Mạng

Hà nội sẽ chỉ nhận hồ sơ thành lập doanh nghiệp qua mạng bắt đầu từ thời gian nào?


Hiện nay, việc tiếp nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng đã được thực hiện một thời gian, tuy nhiên hiệu quả chưa cao. Sở Thông tin và truyền thông Hà Nội cho biết, thực hiện kế hoạch của UBND TP. Hà Nội về việc triển khai vận hành chính thức các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, Sở Thông tin và truyền thông đã chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, quận, huyện tổ chức triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 từ 01/01/2017 đến 168 phường, 12 quận và 10 sở.
Ngày 16/5, phát biểu tại hội nghị họp Ban chỉ đạo ứng dụng công nghệ thông tin TP. Hà Nội, Chủ tịch thành phố Nguyễn Đức Chung chỉ đạo các đơn vị phải nâng tỉ lệ đăng ký qua mạng lên tới 100%. Thành phố sẽ trang bị máy móc hiện đại để sở Kế hoạch-Đầu tư thực hiện được công tác này, nhằm tiết kiệm thời gian, chi phí cho doanh nghiệp.
Cũng tại buổi họp, Giám đốc Sở Thông tin – Truyền thông (TT-TT) Phan Lan Tú cho biết, để triển khai số hoá dữ liệu, tại quận Long Biên – đơn vị được triển khai thí điểm, toàn bộ dữ liệu sổ hộ tịch năm 2015 đã được số hóa và đồng bộ vào hệ thống eSAMS của Thành phố với tổng số 64 quyển sổ khai sinh và đăng ký kết hôn, gồm 8.355 trường hợp với 282.113 trường dữ liệu. Kết quả số hóa đã giúp đơn vị khai thác hiệu quả, hỗ trợ tích cực cho công tác lưu trữ, khai thác dịch vụ công,… Trên cơ sở đánh giá kết quả triển khai, Sở TT-TT đề xuất Thành phố có kế hoạch triển khai cụ thể và đồng bộ trong các lĩnh vực trên diện rộng năm 2017.
Theo chủ tịch UBND TP. Hà Nội, việc này sẽ giúp cho cơ quan nhà nước và doanh nghiệp tránh phiền hà, tiết kiệm thời gian, đồng thời giảm chi phí 200.000 đồng/bộ hồ sơ đăng ký.
Chủ tịch UBND Thành phố cũng giao Sở TT-TT chủ trì phối hợp với các đơn vị về việc thu giá DVC. Cụ thể, Hà Nội sẽ c

ung cấp để tra cứu thông tin công chứng, chứng minh thư nhân dân, tra cứu thông tin sim thẻ viễn thông. Sở Tài chính phối hợp tham mưu để thành phố báo cáo Bộ Tài chính, Chính phủ cho phép mức giá thu các DVC này.
Tính đến hết tháng 4/2017, hệ thống dịch vụ công trực tuyến của thành phố đã có 4.681 cán bộ được cấp tài khoản tham gia, có gần 5 triệu lượt truy cập. Tỷ lệ hồ sơ giao dịch qua mạng là 82.580 hồ sơ/91.798 hồ sơ (đạt trên 90%); Xây dựng hệ thống một cửa điện tử dùng chung 3 cấp kết nối hệ thống dịch vụ công trực tuyến.

Thứ Hai, 15 tháng 7, 2019

24 Việc Chủ Yếu Mà Doanh Nghiệp Cần Lưu Ý Trong Mảng Lao Động

Những lưu ý trong mảng lao động mà doanh nghiệp cần chú ý là gì?


Người lao động chính là lực lượng then chốt ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của doanh nghiệp. Vì vậy, vấn đề quản lý lao động luôn được đưa lên hàng đầu. Vậy doanh nghiệp cần chú ý những điểm gì về lao động, mời các bạn tham khảo bài viết dưới đây:
1.  Thực hiện khai trình, báo cáo tình hình sử dụng lao động theo quy định tại Điều 6 Thông tư 23/2014/TT-BLĐTBXH ngày 29/8/2014 (Thông tư 23).
2.  Thực hiện việc báo cáo định kỳ tình hình sử dụng, thay đổi về lao động theo quy định tại điểm d, Khoản 2 Điều 6 của Bộ luật Lao động 2012, Khoản 2 Điều 8 Nghị định 03/2014/NĐ-CP và Khoản 2 Điều 6 Thông tư 23.
3.  Thực hiện lập và sử dụng sổ quản lý lao động theo hướng dẫn tại Điều 7 Thông tư 23.
4.  Xây dựng và gửi thang lương, bảng lương, tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật, chức danh, tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ, định mức lao động theo quy định Điều 93 của Bộ luật Lao động 2012 và Chương III Nghị định 49/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013.
5.  Thực hiện tham gia và đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động đảm bảo đúng quy định của Pháp luật hiện hành.
6.  Xây dựng và đăng ký Nội quy lao động của đơn vị theo quy định Điều 119, Khoản 1, Khoản 2  Điều 120 của Bộ luật Lao động năm 2012, Chương V Nghị định 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 (Nghị định 05) và Chương III Thông tư 47/2015/TT-BLĐTBXH ngày 16/11/2015.
7.  Xây dựng và ban hành Quy chế dân chủ cơ sở; Quy chế đối thoại định kỳ tại nơi làm việc theo quy định tại Nghị định 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013.
8.  Thương lượng, ký kết và gửi Thỏa ước Lao động tập thể đến cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh theo quy định Chương V của Bộ luật Lao động năm 2012, Chương III Nghị định 05 và Điều 3 Thông tư 29/2015/TT-BLĐTBXH ngày 31/7/2015 (việc này là tùy nghi, không bắt buộc).
9.  Thực hiện báo cáo giải trình nhu cầu sử dụng , thủ tục cấp, cấp lại giấy phép lao động và thực hiện các chế độ báo cáo theo quy định tại Nghị định 11/2016/NĐ-CP ngày 02/03/2016 và Thông tư 40/2016/TT-BLĐTBXH ngày 25/10/2016 (nếu có sử dụng người lao động nước ngoài).
10.  Xây dựng và ban hành Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 Nghị định 05 (Nội dung này nằm trong quy chế lao động của công ty. Cần lưu ý là phải có nội dung này thì mới có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động theo Khoản 1 Điều 38 Bộ luật Lao động 2012).
11.  Thực hiện thủ tục thành lập tổ chức Công đoàn cơ sở của doanh nghiệp theo quy định Khoản 1, Khoản 3 Điều 189 của Bộ luật Lao động 2012 và Điều 5 Luật Công đoàn 2012 (Việc này cũng không bắt buộc mà tùy vào số lượng người lao động muốn tham gia công đoàn của công ty).
12.  Thống kê, báo cáo tai nạn lao động, sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng tại đơn vị theo quy định tại Khoản 1 Điều 36 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 (nếu có); báo cáo định kỳ tình hình tai nạn lao động theo quy định tại Khoản 1 Điều 24 Nghị định 39/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016 (Nghị định 39).
13.  Báo cáo định kỳ hàng năm về công tác an toàn, vệ sinh lao động theo quy định tại Điều 10 Thông tư 07/2016/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2016.
14.  Khai báo về tai nạn lao động chết người hoặc làm bị thương nặng từ 02 người lao động trở lên theo quy định tại Khoản 1 Điều 34 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015; Điều 10 Nghị định 39 (nếu có).
15.  Theo dõi, quản lý, khai báo về việc sử dụng các loại máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động theo quy định tại Điều 30, Điều 31 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 Điều 16 Nghị định 44/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016  (Nghị định 44) (nếu có); Thông tư 53/2016/TT-BLĐTBXH ngày 28/12/2016.
16.  Bố trí cán bộ làm công tác An toàn vệ sinh lao động chuyên trách theo quy định tại Điều 36 Nghị định 39.
17.  Bố trí cán bộ làm bộ phận y tế theo quy định Điều 37 Nghị định 39.
18.  Thực hiện bồi dưỡng hiện vật cho người làm trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại (nếu có) theo quy định tại Điều 24 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015; Thông tư 25/2013/TT-BLĐTBXH ngày 18/10/2013.
19.  Rà soát, phân loại và tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động theo quy định tại Điều 14 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015; Điều 17 Nghị định 44.
20.  Tổ chức khám sức khỏe và điều trị bệnh nghề nghiệp cho người lao động theo quy định tại Điều 21 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015.
21.  Lập hồ sơ quản lý sức khỏe người lao động, hồ sơ vệ sinh lao động theo quy định tại Thông tư 19/2016/TT-BYT ngày 30/6/2016.
22.  Thực hiện cấp phát, theo dõi phương tiện bảo vệ cá nhân cho người lao động theo quy định tại Điều 23 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015; Thông tư 04/2014/TT-BLĐTBXH ngày 12/2/2014.
23.  Xây dựng và thực hiện kế hoạch An toàn, vệ sinh lao động hằng năm; Nội quy an toàn, vệ sinh lao động của doanh nghiệp cho từng khu vực làm việc; Biện pháp làm việc an toàn cho từng loại công việc; Kiểm soát các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại; Đánh giá rủi ro về An toàn, vệ sinh lao động; Phương án xử lý sự cố kĩ thuật gây mất An toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng và ứng cứu khẩn cấp theo quy định tại Điều 15, 18, 76, 77, 78 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015.
24.  Xây dựng kế hoạch triển khai Tháng hành động về an toàn, vệ sinh lao động theo quy định tại Thông tư 02/2017/TT-BLĐTBXH ngày 20/2/2017.

Trên đây là những việc chủ yếu mà các doanh nghiệp cần lưu ý trong mảng lao động, mọi thắc mắc xin Qúy khách hàng vui lòng liên hệ với Công ty luật để được chúng tôi hỗ trợ một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất.

Nguồn : http://www.antlawyers.com/24-viec-chu-yeu-ma-doanh-nghiep-can-luu-y-trong-mang-lao-dong/

Nên Giải Quyết Tranh Chấp Bằng Trọng Tài Thương Mại Hay Hòa Giải Thương Mại

Nên giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại hay hoà giải thương mại? Ưu nhược điểm của trọng tài thương mại và hòa giải thương mại?

Tranh chấp thương mại là một hiện tượng khá phổ biến xảy ra trong nền kinh tế, nó làm chậm quá trình lưu thông hàng hóa, quá trình thanh toán,…tác động xấu đến sự phát triển của nền kinh tế chính vì vậy vấn đề đặt ra là cần có các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại một cách hiệu quả và được pháp luật công nhận. Pháp luật Việt Nam mà cụ thể là Luật  thương mại năm 2005 đã ghi nhận sự tồn tại của bốn phương thức giải quyết tranh chấp thương mại đó là: thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và tòa án.

Hòa giải thương mại và trọng tài thương mại là hai trong các phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn (ngoài tòa án) theo pháp luật Việt Nam. Theo đó, các phương thức này được hình thành dựa trên sự thỏa thuận, tự nguyện và có thủ tục giải quyết tuân thủ quy định pháp luật.
Hàng lang pháp lý về trọng tài Thương mại và Hòa giải Thương mại tại Việt Nam đến hiện tại khá đầy đủ được thể hiện qua Luật Trọng tài Thương mại số 54/2010/QH12 có hiệu lực từ 01/1/2011, Quy tắc trọng tài của VIAC 2017 (đối với Trọng tài Thương mại); và Nghị định 22/2017/NĐ-CP ngày 24/2/2017 của Chính phủ về Hòa giải Thương mại, Thông tư 02/2018/TT-BTP ngày 26/2/2018 về ban hành và hướng dẫn sử dụng một số biểu mẫu về tổ chức và hoạt động hòa giải thương mại, quy tắc thương mại của VIAC (đối với hòa giải thương mại). Mặc dù vậy, để việc lựa chọn phương án trọng tài thương mại và Hòa giải thương mại diễn ra suôn sẻ, doanh nghiệp cần lưu ý, cân nhắc nhiều yếu tố khách quan, chủ quan để đưa ra quyết định sáng suốt là nên sử dụng hình thức nào để giải quyết. Một phần không nhỏ tác động đến hiệu quả của việc lựa chọn là chúng ta phải hiểu rõ bản chất, ưu điểm, nhược điểm của hai hình thức này.
I. PHƯƠNG THỨC HÒA GIẢI
1. Khái niệm
Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian hòa giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh.Hòa giải được thực hiện dưới các hình thức: hòa giải ngoài thủ tục tố tụng và hòa giải trong thủ tục tố tụng. Hòa giải ngoài thủ tục tố tụng là việc hòa giải được các bên tiến hành trước khi đưa đơn khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài. Hòa giải trong thủ tục tố tụng là hoạt động được tiến hành tại tòa án, tại cơ quan trọng tài khi các cơ quan này giải quyết tranh chấp theo đơn kiện của một bên. Khác với hòa giải ngoài thủ tục tố tụng, hòa giải trong thủ tục tố tụng được tiến hành dưới sự trợ giúp của tòa án hoặc trọng tài. Khi các bên hòa giải được với nhau, tòa án hoặc trọng tài sẽ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự và quyết định này có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên.
Ở Việt Nam, qua các thời kỳ phát triển kinh tế- xã hội, việc thương lượng, hòa giải nhằm giải quyết các tranh chấp phát sinh nhất là các tranh chấp thương mại luôn được coi trọng. Khi tranh chấp phát sinh các bên có thể tự thương lượng, hòa giải với nhau. Nếu thương lượng, hòa giải không thành mới đưa ra tòa án hoặc trọng tài. Và ngay cả khi giải quyết tranh chấp tại trọng tài hoặc tòa án, các bên vẫn có thể tiến hành hòa giải với nhau.
2. Phân tích bản chất của phương pháp hòa giải
Bản chất của phương thức hòa giải được thể hiện qua các đặc trưng cơ bản sau đây:
Thứ nhất, việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải đã có sự hiện diện của bên thứ ba (do các bên tranh chấp lựa chọn) làm trung gian để trợ giúp các bên tìm kiếm giải pháp tối ưu nhằm loại trừ tranh chấp. Điểm khác biệt cơ bản giữa hòa giải và thương lượng là trong hòa giải có sự xuất hiên của bên thứ ba tham gia vào quá trình giải quyết tranh chấp còn thương lượng là sự tự giải quyết tranh chấp giữa các bên mà không có sự xuất hiện của người thứ ba. Mặc dù với vai trò là người hòa giải nhưng bên thứ ba không có quyền quyết định hay áp đặt bất cứ vấn đề gì nhằm ràng buộc các bên tranh chấp, mà họ chỉ đóng vai trò là trung gian đưa ra những hướng dẫn và trợ giúp nhất định để tạo cơ sở cho các bên trong tranh chấp thương mại đạt được sự thống nhất ý chí và đưa ra quyết định cuối cùng.
Thứ hai, quá trình hòa giải các bên tranh chấp cũng không chịu sự chi phối bởi các quy định có tính khuôn mẫu, bắt buộc của pháp luật về thủ tục hòa giải. Cũng giống như thương lượng, pháp luật hiện hành của nước ta không có quy định nào ràng buộc, chi phối đến cơ chế hòa giải ngoài các quy định có tính chất ghi nhận thương lượng, hòa giải là những phương thức giải quyết tranh chấp được các bên tranh chấp ưu tiên lựa chọn để giải quyết tranh chấp phát sinh.
Thứ ba, kết quả hòa giải thành được thực thi cũng hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí tự nguyện của các bên tranh chấp mà không có bất kỳ cơ chế nào bảo đảm thi hành những cam kết của các bên trong quá trình hòa giải.
3. Ưu điểm của phương thức hòa giải
Giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải cũng có nhiều ưu điểm như phương thức thương lượng, bởi tính đơn giản, thuận tiện, nhanh chóng, linh hoạt, hiệu quả và ít tốn kém. Bên cạnh những ưu điểm chung, hòa giải còn có những ưu điểm vượt trội sau:
Thứ nhất, hòa giải có sự tham gia của người thư ba trong quá trình giải quyết tranh chấp mà bản thân thương lượng không thể có được. Bằng sự hiểu biết cũng như sự tín nhiệm của mình, người hòa giải sẽ biết cách làm cho ý chí của các bên dễ gặp nhau trong quá trình đàm phán để loại trừ tranh chấp.
Thứ hai, các bên hòa giải thành thì không có kẻ thắng người thua nên không gây ra tình trạng đối đầu giữa các bên và vì vậy khả năng duy trì được quan hệ hợp tác vốn có giữa các bên.
Thứ ba, giải quyết tranh chấp bằng hòa giải, các bên dễ dàng kiểm soát được việc cung cấp chứng cứ và sử dụng chứng cứ qua đó giữ được bí quyết kinh doanh và uy tín của các bên.
Thứ tư, do xuất phát từ tinh thần tự nguyện và thiện chí của các bên. Vì vậy khi đạt được phương án hòa giải, các bên thường nghiêm túc thực hiện.
4. Nhược điểm của phương thức hòa giải
Bên cạnh những ưu điểm đã trình bày ở trên, việc giải quyết tranh chấp bằng phương thức hòa giải vẫn còn một số những hạn chế đáng chú ý sau:
  • Sự thành công của quá trình giải quyết tranh chấp chủ yếu phụ thuộc vào thái độ thiện chí và hợp tác của các bên tranh chấp.
  • Việc thực thi các kết quả đã đạt được trong quá trình giải quyết tranh chấp phụ thuộc vào sự tự nguyện thi hành của bên có nghĩa vụ phải thi hành, thỏa thuận hòa giải giữa các bên (trừ trường hợp hòa giải tại trọng tài và tòa án) không được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước.
  • Bên tranh chấp không có thiện chí có thể lợi dụng việc hòa giải để trì hoãn việc phải thực hiện nghĩa vụ. Nhiều trường hợp do muốn tìm mọi cách mà bên có quyền lợi bị vi phạm mất quyền khởi kiện tại tòa án hoặc trọng tài do hết thời hiệu khởi kiện.
Ngoài ra, trong quá trình hoà giải các bên phải trao đổi, cung cấp thông tin với người thứ ba về hoạt động kinh doanh của mỗi bên liên quan đến vụ tranh chấp nên uy tín cũng như bí quyết khinh doanh của mỗi bên dễ bị ảnh hưởng hơn so với phương thức thương lượng. Bên cạnh đó, việc chi phí cho quá trình giải quyết tranh chấp thương mại bằng hòa giải cũng tốn kém hơn so với thương lượng, bởi một hoặc các bên phải trả khoản dịch vụ phí cho người thứ ba làm trung gian hòa giải.
II. PHƯƠNG THỨC TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI:
1. Khái niệm
Giải quyết tranh chấp trong thương mại bằng trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của trọng tài viên, với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt xung đột trong quá trình tiến hành các hoạt động thương mại bằng việc đưa ra một phán quyết buộc các bên tranh chấp phải thực hiện. Tại khoản 1 điều 3 Luật trọng tài thương mại năm 2010 cũng quy định: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của luật này.”
2. Bản chất của phương thức trọng tài thương mại
Về bản chất, trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại không mang ý chí quyền lực nhà nước (không nhân danh quyền lực nhà nước như phán quyết của toà án) mà chủ yếu được giải quyết dựa trên phán quyết của trọng tài thương mại (được các bên lựa chọn) theo thủ tục linh hoạt, mềm dẻo. Ngoài ra, phương thức giải quyết tranh chấp thương mại này còn đảm bảo tối đa uy tín cũng như bí mật của các bên tranh chấp, góp phần củng cố và duy trì mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa các bên.
Điều này được thể hiện qua các đặc điểm sau:
Thứ nhất, trọng tài thương mại là một loại hình tổ chức phi Chính phủ, hoạt động theo Luật trọng tài năm 2010 và quy chế trọng tài thương mại quốc tế. Nó có quyền phán quyết như tòa án và quyết định của trọng tài được cưỡng chế thi hành. Tính chất phi chính phủ của phương thức này được thể hiện:
a) Hội đồng trọng tài, tổ chức trọng tài không phải được thành lập bởi Nhà nước mà được thành lập theo sáng kiến của trọng tài viên sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép;
b) Hội đồng trọng tài, các tổ chức trọng tài và các trọng tài viên không nằm trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước, cũng không thuộc hệ thống cơ quan xét xử nhà nước.
c) Các tổ chức trọng tài hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải mà không được cấp kinh phí hoạt động trong ngân sách nhà nước.
d) Trọng tài viên hoặc hội đồng trọng tài không nhân danh quyền lực nhà nước mà nhân danh người thứ ba để ra phán quyết.
e) Hoạt động trọng tài vẫn luôn đặt dưới sự quản lý và hỗ trợ của nhà nước, nhà nước ban hành các văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động như cấp, thay đổi, bổ sung, thu hồi giấy phép thành lập, giấy đăng ký hoạt động của các trung tâm trọng tài. Nhà nước hỗ trợ các hoạt động của tố tụng trọng tài như: hỗ trợ chỉ định, thay đổi trọng tài viên, cưỡng chế thi hành quyết định trọng tài.
Thứ hai, cơ chế giải quyết tanh chấp bằng trọng tài là sự kết hợp giữa hai yếu tố thỏa thuận và tài phán. Thỏa thuận làm tiền đề cho phán quyết và không thể có phán quyết thoát ly những yếu tố đã được thỏa thuận. Do đó, về nguyên tắc thẩm quyền của trọng tài không bị giới hạn bởi pháp luật, các đương sự có thể lựa chọn bất kì lúc nào, bất cứ trọng tài ad-hoc nào hoặc bất cứ trung tâm trọng tài nào trên thế giới. Tuy nhiên để bảo vệ lợi ích của nhà nước (lợi ích công), một số nước trên thế giới chỉ thừa nhận thầm quyền của trọng tài trong lĩnh vực luật tư; ở Việt Nam tuy không phân biệt luật công và luật tư nhưng pháp luật nước ta cũng chỉ thừa nhận thẩm quyền của trọng tài trong lĩnh vực thương mại và một số lĩnh vực nhất định (Điều 2 Luật trọng tài năm 2010).
Thứ ba, hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đảm bảo quyền tự định đoạt của các đương sự rất cao: Các bên có quyền lựa chọn trọng tài viên, lựa chọn quy tắc trọng tài, luật áp dụng để giải quyết tranh chấp. Luật trọng tài năm 2010 của nước CHXHCN Vệt Nam tại điều 14 đã quy định: “1. Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp; 2. Đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn; nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng pháp luật mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất; 3. Trường hợp pháp luật Việt Nam, pháp luật do các bên lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan đến nội dung tranh chấp thì Hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán quốc tế để giải quyết tranh chấp nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.” Ngoài ra một trong các nguyên tắc khi giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại là phiên họp giải quyết tranh chấp không diễn ra công khai trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, nguyên tắc này đã thể hiện được sự tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp trong giải quyết tranh chấp.
Thứ tư, phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị và có hiệu lực thi hành đối với các bên. Nếu một trong các bên không thi hành thì bên kia có quyền yêu cầu tòa án công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài (Khoản 5 điều 61 và điều 66 Luật trọng tài thương mại năm 2010).
Phương thức trọng tài thương mại có sự hỗ trợ của tòa án. Sở dĩ cần sự hỗ trợ của tòa án bởi vì phán quyết của trọng tài không mang tính quyền lực nhà nước. Do đó, cần phải có một cơ quan nhà nước hỗ trợ, đó là tòa án. Theo Luật trọng tài năm 2010 của nước ta quy định thì tòa án hỗ trợ để đảm bảo thi hành thỏa thuận trọng tài, hỗ trợ cho trọng tài trong việc chỉ định trọng tài viên, áp dụng các biện pháp khẩn cấp, kiểm tra, giám sát đối với các quyết định của trọng tài, hủy quyết định trọng tài.
Trọng tài tồn tại dưới hai hình thức cơ bản: trọng tài vụ việc (trọng tài adhoc) và trọng tài thường trực.
a) Trọng tài vụ việc (Trọng tài ad-hoc): là hình thức trọng tài được lập ra để giải quyết các tranh chấp cụ thể khi có yêu cầu và tự giải thể khi giải quyết xong tranh chấp đó. Đặc điểm cơ bản của trọng tài vụ việc là không có trụ sở, không có bộ máy giúp việc và không lệ thuộc vào bất cứ một quy tắc xét xử nào. Các bên khi yêu cầu trọng tài ad-hoc xét xử có quyền lựa chọn thủ tục, các phương thức tiến hành tố tụng. Đây là hình thức tổ chức đơn giản, khá linh hoạt, mềm dẻo về phương thức hoạt động nên nói chung phù hợp với những tranh chấp ít tình tiết phức tạp, có nhu cầu giải quyết nhanh chóng và các bên tranh chấp có kiến thức và hiểu biết về pháp luật, cũng như kinh nghiệm tố tụng. Trên thực tế, số lượng tranh chấp thương mại được giải quyết bằng trọng tài ad-hoc không nhiều.
b) Trọng tài thường trực là những tổ chức trọng tài có hình thức tổ chức, trụ sở ổn định, có danh sách trọng tài viên và hoạt động theo điều lệ riêng. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động chịu sự điều chỉnh của pháp luật mà chủ yếu là Luật trọng tài năm 2010 và Luật doanh nghiệp năm 2014.
3. Các ưu điểm của phương thức trọng tài thương mại
Thứ nhất, phán quyết của trọng tài thương mại có tính chung thẩm: đa số các quyết định trọng tài không bị kháng cáo, chỉ trừ trường hợp một bên trong tranh chấp yêu cầu và có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 điều 68 luật trọng tài năm 2010 thì quyết định trọng tài bị hủy theo quyết định của tòa án.
Thứ hai, các quyết định trọng tài được công nhận quốc tế thông qua một loạt
các công ước quốc tế được kí kết đặc biệt là công ước New York năm 1958 về thi hành quyết định trọng tài nước ngoài, hiện nay có khoảng 120 quốc gia là thành viên của công ước này.
Thứ ba, là cơ quan trọng tài hoàn toàn trung lập, các trọng tài viên có trình độ chuyên môn cao. Để trở thành trọng tài viên thì cá nhân phải đáp ứng những yêu cầu mà pháp luật quy định, theo luật trọng tài của nước CHXHCN Việt Nam năm 2010 thì người đáp ứng đủ các yêu cầu quy định tại điều 20 thì có thể làm trọng tài viên.
Thứ tư, là trọng tài thương mại mang tính linh hoạt, đảm bảo tốt hơn quyền tự định đoạt của các bên. Nghĩa là các bên có quyền tự quyết định chọn hình thức tổ chức trọng tài cũng như trọng tài viên mà mình ưa thích; có quyền lựa chọn địa điểm, thời gian sao cho tiện với doanh nghiệp. Như vậy so với tòa án, các công việc đó do thẩm phán có thẩm quyền quyết định và doanh nghiệp phải tuân theo thì hình thức trọng tài thương mại tạo cho các bên tranh chấp có thể chủ động hơn.
Thứ năm, là trọng tài thương mại mang tính bí mật: các phiên họp giải quyết tranh chấp của trọng tài không được tổ chức công khai và chỉ có các bên nhận được quyết định. Đây là một ưu điểm lớn của phương thức trọng tài khi các tranh chấp liên quan đến các bí mật thương mại và phát minh.
Thứ sáu, là giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức trọng tài có thế giúp các bên tiết kiệm được thời gian và chi phí hơn so với phương thức thông qua tòa án. Trọng tài có thể tiến hành rất nhanh trong vòng vài tuần hoặc vài tháng nếu các bên mong muốn. Trong hợp đồng với tổ chức trọng tài, các bên có thể thỏa thuận giới hạn thời gian cần thiết để đưa ra quyết định trọng tài.
4. Nhược điểm của phương thức trọng tài thương mại:
Các trọng tài viên có thể gặp khó khăn trong quá trình điều tra, xác minh và thu thập chứng cứ và triệu tập nhân chứng vì tuy pháp luật có ghi nhận các quyền này tại điều 45, 46 và 47 Luật trọng tài năm 2010 nhưng quyền của họ chỉ dừng lại ở mức được “yêu cầu” còn việc có cung cấp chứng cứ hay không phải dựa vào sự tự nguyện và thiện chí của các bên và người làm chứng.
Trọng tài ad-hoc phải phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của các bên. Nếu một bên không có thiện chí, quá trình tố tụng sẽ luôn có nguy cơ bị trì hoãn, và nhiều khi không thể thành lập được Hội đồng Trọng tài bởi vì không có quy tắc tố tụng nào được áp dụng và không có tổ chức nào giám sát việc tiến hành trọng tài và giám sát các Trọng tài viên. Vì vậy, kết quả phần lớn phụ thuộc vào việc tiến hành tố tụng và khả năng kiểm soát quá trình tố tụng của các Trọng tài viên. Cả Trọng tài viên và các bên sẽ không có cơ hội nhận được sự ủng hộ và trợ giúp đặc biệt từ một tổ chức trọng tài thường trực trong trường hợp phát sinh sự kiện không dự kiến trước và trong trường hợp các Trọng tài viên không thể giải quyết được vụ việc. Sự hỗ trợ duy nhất mà các bên có thể nhận được là từ các Tòa án.
Hình thức Trọng tài quy chế có nhược điểm là tốn kém nhiều chi phí. Rõ ràng giải quyết tranh chấp tại Trọng tài quy chế, ngoài việc phải trả chi phí thù lao cho các Trọng tài viên, các bên còn phải trả thêm các chi phí hành chính để nhận được sự hỗ trợ của các trung tâm trọng tài. Ngoài ra trong một số trường hợp quá trình giải quyết tranh chấp bị kéo dài mà Hội đồng Trọng tài các các bên bắt buộc phải tuân thủ vì phải tuân theo các thời hạn theo quy định của Quy tắc tố tụng trọng tài làm giảm hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài.
Như vậy, qua phân tích trên có thể thấy mỗi phương thức giải quyết đều có những ưu, nhược điểm nhất định. Tuỳ trường vụ việc, tình huống cụ thể mà chúng ta nên lựa chọn hình thức phù hợp. Theo ông Phạm Quốc Tuấn- Luật sư điều hành của Công ty Luật DIMAC, Trọng tài viên của VIAC, để việc lựa chọn phương án trọng tài thương mại và Hòa giải thương mại diễn ra suôn sẻ, doanh nghiệp cần lưu ý, đối với trọng tài thương mại, doanh nghiệp cần kiểm tra thật kỹ thời hiệu của vụ việc, cân nhắc lựa chọn đúng Trọng tài viên uy tín, không vi phạm các thủ tục tố tụng trọng tài, chuẩn bị tất cả và đầy đủ số liệu/bằng chứng vụ việc; đối với hòa giải thương mại, doanh nghiệp cần có thỏa thuận hòa giải, chọn Hòa giải viên có kinh nghiệm, khả năng và đạo đức, lưu ý thủ tục cần làm sau khi hòa giải thành công.
Nguồn : luatsu1900